Kết quả xét nghiệm tính toán toàn diện các tiểu thể máu

Bệnh thiếu máu
Bệnh thiếu máu

Xét nghiệm này dự đoán việc đo một loạt các thông số, những máy móc có thể làm công việc này dễ dàng đến mức không có ai chỉ đặt phòng thí nghiệm để lấy kết quả phân tích hồng cầu và bạch cầu. Thực tế các máy tính điện tử dùng phân tích thành phần máu có bước tiến lớn. Trước đây, khi phân tích thành phần máu, nhân viên phòng thí nghiệm phải ngồi chúi mũi vào kính hiển vi và đếm những tiểu thể máu trên đầu ngón tay. Máy móc không chỉ tiết kiệm thời gian và sức lao động mà còn làm công việc này chính xác hơn nhiều.

Trước kia người ta dùng kính hiển vi để phân tích thành phần máu
Trước kia người ta dùng kính hiển vi để phân tích thành phần máu

Kết quả phân tích bao gồm toàn bộ thành phần thực (có nghĩa là thành phần thấy được) của máu. Chúng bao gồm các tiểu thể máu màu đỏ (hồng cầu) các loại tiểu thể máu màu trắng (bạch cầu), tiểu cầu, các vật thể kí sinh.

Hồng cầu đem ôxy từ phổi đến các mô, đổi lại lấy dioxit cacbon ở các mô trả về phổi. Thông thường ở đàn ông đếm được khoảng gần 5 triệu hồng cầu trong một mm3 máu (từ 4,5 đến 5,7 triệu). Kết quả tính toán cũng chỉ ra lượng huyết cầu tố – protein trong hồng cầu, chất dùng vận chuyển khí. 14-17g/100ml được coi là chuẩn ở đàn ông. Còn một thông số của kết quả xét nghiệm ở thể tích huyết cầu (hồng cầu kê), thể tích tính toán chính xác của hồng cầu trong một lượng máu nhất định (từ 41 -50%).

Có thể tạo ra được một ấn tượng, là kết quả hồng cầu, huyết cầu tố và hồng cầu kế đo được cùng một độ, nhưng thực tế hiểu biết ba thông số này cho phép tiến hành những tính toán nhất định. Thí dụ việc phân chia hồng cầu thể ra số lượng hồng cầu cho ta thể tích thực của một tế bào. Một số bệnh như thiếu sắt, có thể dẫn đến việc tạo thành hồng cầu nhỏ; thiếu vitamin B2, ngược lại, là các hồng cầu lớn quá cỡ. Vì vậy thể tích thực trong tính toán là một thông số rất cần thiết.

>>> Xem thêm:  Chữa bệnh viêm tuyến tiền liệt mạn tính do bại tinh trở khiếu và khí trệ huyết ứ.

Khi số lượng hồng cầu – tức là huyết cầu tố – trong máu giảm xuống dưới mức tiêu chuẩn, sẽ xuất hiện bệnh thiếu máu (ít máu). Có hàng trăm loại rối loạn khác nhau gây ra bệnh thiếu máu, và nghĩa vụ của người thầy thuốc là phải tìm ra chính xác nguyên do gây nên thiếu máu ở từng bệnh nhân riêng. Một số trường hợp thiếu máu do bẩm sinh, không chữa khỏi được đôi khi cũng vô hại, các trường hợp khác đôi khi có thể gây nên bệnh tim nặng như u ác tính ở tim.

Thiếu máu là trạng thái không được khỏe nhưng tình trạng đối lập với nó cũng không phải là trạng thái tốt – đó là hiện tượng tăng hồng cầu (tăng nhanh số lượng hồng cầu). Số lượng hồng cầu quá lớn làm giảm hoạt tính của máu và tăng nguy cơ tạo thành các cục máu nghẽn (máu đông). Tăng hồng cầu xuất hiện do một vài căn bệnh không phổ biến về máu. Nó cũng xuất hiện trong điều kiện các mô không đủ số lượng ôxy (thí dụ khi con người ở độ cao lớn hoặc ốm nặng bởi bệnh tim hoặc phổi). Nhưng phổ biến hơn cả là ở những người nghiện thuốc lá nặng (hồng cầu kê 54).

Bệnh thiếu máu
Bệnh thiếu máu

Bạch cầu tham gia vào các phản ứng miễn dịch. Trong máu thường xuyên có mặt không dưới nửa tá các dạng tế bào khác nhau này, gồm có bạch cầu đơn nhân to, bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axit… Số lượng bạch cầu khoảng 4 – 10.000/1 ml máu. Trong thời gian nhiễm bệnh chỉ số này có thể giảm còn một nửa, một phần ba, đôi khi giảm xuống đến còn 3000/lml, có nghĩa là, hoặc sự viêm nhiễm tiêu diệt khả năng sinh sản bạch cầu bằng tủy, hoặc bạch cầu tụ lại ở ô nhiễm khuẩn, điều đó khiến cho nồng độ của bạch cầu trong máu thấp xuống. Độ bạch cầu thấp được phát hiện ra trong các trường hợp rối loạn miễn dịch, hoặc trong trường hợp rối loạn chức năng tủy (nơi bạch cầu được tạo ra) do nhiễm trùng, do xuất hiện các u ác hoặc do tác dụng của thuốc.

Một số bác sĩ tin rằng, lượng bạch cầu cao chỉ ra bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn, còn lượng bạch cầu thấp là nhiễm vi rút. Điều đó không hoàn toàn đúng. Lượng bạch cầu đáng lưu ý chỉ khi nào chưa chắc chắn trong người bệnh có viêm nhiễm hay không. Lượng bạch cầu không bình thường trong một người bệnh đang viêm nhiễm không chứng minh điều gì và cũng không giúp ích gì trong chữa trị.